Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật

Giới thiệu văn bản có hiệu lực trong tháng 01/2026

09/01/2026 11:13

 

1. Luật Đường sắt

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 Quốc hội thông qua Luật Đường sắt. Luật Đường sắt gồm 8 chương, 114 điều. Luật quy định về quy hoạch, đầu tư, xây dựng, bảo vệ kết cấu hạ tầng đường sắt; phương tiện giao thông đường sắt; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động đường sắt; quy tắc, tín hiệu giao thông và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường sắt; kinh doanh đường sắt.

Luật Đường sắt ra đời tạo khung pháp lý cho việc thiết lập môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử trong kinh doanh đường sắt, thu hút mọi thành phần kinh tế trong nước, ngoài nước tham gia đầu tư phát triển đường sắt, đẩy nhanh tốc độ hiện đại hoá, nâng cao thị phần vận tải, đóng góp có hiệu quả cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Thể hiện ở các mặt cơ bản sau đây:

- Thu hút các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tham gia đầu tư trong lĩnh vực hoạt động đường sắt. Điều 4 của Luật đã quy định nguyên tắc hoạt động đường sắt là phải phân định rõ giữa quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, giữa kinh doanh kết cấu hạ tầng và kinh doanh vận tải trên đường sắt do Nhà nước đầu tư nhằm tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, không phân biệt đối xử trong kinh doanh đường sắt, thu hút các thành phần kinh tế trong nước và ngoài nước tham gia đầu tư phát triển đường sắt. Ngoài ra, Điều 18 và Điều 56 cũng đã quy định cụ thể các chính sách ưu đãi của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị.

- Quy hoạch phát triển đường sắt. Luật quy định về quy hoạch tổng thể phát triển đường sắt, quy định cụ thể về quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt như một nội dung cơ bản của quy hoạch tổng thể phát triển đường sắt để định hướng đầu tư, xây dựng, phát triển đồng bộ, hợp lý, thống nhất mạng lưới giao thông vận tải đường sắt trong phạm vi cả nước, tạo điều kiện khai thác hiệu quả tiềm năng hiện có và phát triển năng lực của ngành đường sắt.

- Kết cấu hạ tầng đường sắt. Luật đã quy định chính sách của Nhà nước là tập trung phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt quốc gia, đường sắt đô thị theo hướng hiện đại, đồng thời khuyến khích tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư, khai thác, phát triển kết cấu hạ tầng đường sắt.

- Phát triển đường sắt đô thị. Luật đã tạo cơ sở pháp lý để hình thành và phát triển đường sắt đô thị-loại hình giao thông công cộng không thể thiếu trong việc giải quyết ách tắc giao thông và giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các đô thị lớn.

- Bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt. Theo đó quy định rõ trách nhiệm của các ngành, các cấp, các địa phương, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm trật tự an toàn giao thông đường sắt; tuyên truyền, giáo dục và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường sắt.

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

2. Luật việc làm

Ngày 16/6/2025 Quốc hội thông qua Luật Việc làm. Theo đó, Luật năm 2025 đã kế thừa các quy định được thực hiện có hiệu quả từ Luật Việc làm năm 2013, sửa đổi các quy định không còn phù hợp, trọng tâm là bổ sung các quy định nhằm thể chế hóa 04 Nghị quyết đột phá - “bộ tứ trụ cột” đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, cụ thể:

- Thể chế hóa Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Luật đã thiết kế theo hướng quy định rõ ràng, thực chất, ngắn gọn, chỉ quy định những nội dung đúng thẩm quyền của Quốc hội, bám sát thực tiễn, bảo đảm tính khả thi. Tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước, nâng cao năng lực thực thi; không quy định trong luật những nội dung về thủ tục hành chính, trình tự, hồ sơ mà giao Chính phủ quy định theo thẩm quyền để linh hoạt, kịp thời sửa đổi, bổ sung khi cần thiết do tính chất đa dạng, phức tạp, biến đổi liên tục của việc làm, tạo thuận lợi cho việc phân cấp, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, hướng tới thúc đẩy tạo việc làm theo hướng bền vững.

- Thể chế hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Luật đã bổ sung quy định về đăng ký lao động, làm cơ sở xây dựng cơ sở dữ liệu về người lao động đảm bảo “đúng, đủ, sạch, sống”, có sự kết nối, cập nhật, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác; sửa đổi các quy định nhằm hướng tới xây dựng, quản trị và vận hành hệ thống thông tin thị trường lao động tập trung, thống nhất, đa tầng, đa lĩnh vực, được cập nhật thông tin kịp thời, chính xác, đầy đủ. Bổ sung quy định về phát triển sàn giao dịch việc làm quốc gia, chính sách khuyến khích phát triển kỹ năng nghề, tạo việc làm trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh… nhằm góp phần thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số, xã hội số, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; đồng thời, góp phần quản lý được nguồn nhân lực quốc gia và điều tiết, kết nối cung - cầu lao động trong và ngoài nước.

- Thể chế hoá Nghị quyết số 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Luật Việc làm năm 2025 đã sửa đổi, bổ sung các quy định về cho vay giải quyết việc làm (bao gồm hỗ trợ tạo, duy trì, mở rộng việc làm trong nước và hỗ trợ đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng) theo hướng mở rộng đối tượng, đa dạng hoá cơ chế huy động nguồn lực nhằm tạo cơ hội cho người lao động, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhất là người lao động, cơ sở kinh doanh nhỏ và vừa tại khu vực nông thôn, các đối tượng yếu thế, đặc thù được vay vốn duy trì, mở rộng, phát triển sản xuất kinh doanh, thi đua làm giàu, góp phần xây dựng đất nước; sửa đổi quy định tạo thuận lợi cho khu vực tư (doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm) thành lập và hoạt động; đồng thời, bổ sung các quy định nhằm đẩy mạnh, tăng cường sự phối hợp công - tư trong hoạt động dịch vụ việc làm.

- Thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao - một trong ba đột phá chiến lược trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế trong tình hình mới, Luật số 74/2025/QH15 đã sửa đổi các quy định liên quan về khung trình độ, tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia… đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động và cập nhật với tiêu chuẩn, trình độ kỹ năng nghề của khu vực, thế giới. Cụ thể hóa các nội dung về phát triển kỹ năng nghề và bổ sung quy định về các đối tượng yếu thế, đặc thù được Nhà nước hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia nhằm tạo thuận lợi cho người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp. Đồng thời, Luật đã sửa đổi quy định nhằm tạo điều kiện cho tất cả người lao động có nhu cầu đi làm việc ở nước ngoài được vay vốn qua Ngân hàng Chính sách xã hội để đào tạo nghề, chi trả các chi phí…, góp phần thúc đẩy đưa lao động có tay nghề đi làm việc tại các thị trường có thu nhập cao, an toàn.

- Thể chế hoá chủ trương của Đảng về sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, Luật Việc làm năm 2025 giao Chính phủ quy định về điều kiện thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức dịch vụ việc làm công nhằm tiếp tục phát triển hệ thống thiết chế về dịch vụ việc làm trong khu vực công đảm bảo cung cấp dịch vụ việc làm miễn phí (tư vấn, giới thiệu việc làm, cung cấp thông tin thị trường lao động) cho người lao động; quy định về hệ thống thông tin thị trường lao động; quy định về các trình tự, thủ tục thực hiện các chính sách; giao Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định việc uỷ thác nguồn vốn uỷ thác cho Ngân hàng Chính sách xã hội…

- Cải cách chính sách bảo hiểm thất nghiệp hướng tới là công cụ quản trị thị trường lao động theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 23/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (trong đó có cải cách chính sách bảo hiểm thất nghiệp). Theo đó, Luật Việc làm năm 2025 đã tập trung sửa đổi các nội dung lớn, trọng tâm như: mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm thất nghiệp nhằm tăng cường diện bao phủ chính sách và phù hợp với Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024; linh hoạt mức đóng bảo hiểm thất nghiệp (tối đa bằng 1% tiền lương tháng); đơn giản hoá điều kiện, giảm thủ tục hành chính cho người lao động và người sử dụng lao động trong tiếp cận và thụ hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp (Tư vấn, giới thiệu việc làm; Hỗ trợ người lao động tham gia đào tạo, nâng cao trình độ kỹ năng nghề; Trợ cấp thất nghiệp; Hỗ trợ người sử dụng lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động).

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

         3. Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024

Ngày 30/11/2024 Quốc hội thông qua Luật Tư pháp người chưa thành niên 2024. Luật bao gồm 10 chương, 179 điều bao gồm các nội dung sau:

-  Luật đã quy định các nguyên tắc nhân văn, tiến bộ và đặc thù để bảo vệ người chưa thành niên trong tư pháp hình sự.

 Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã quy định 16 nguyên tắc cơ bản sau để bảo vệ người chưa thành niên trong tư pháp hình sự, gồm: bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên; bảo đảm thủ tục tố tụng thân thiện; đối xử bình đẳng; quyền được thông tin đầy đủ, kịp thời; bảo đảm có người đại diện; giải quyết nhanh chóng, kịp thời; ưu tiên áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; xử lý chuyên biệt; bảo đảm giữ bí mật cá nhân; quyền bào chữa, quyền được trợ giúp pháp lý, phiên dịch; hạn chế tối đa việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế; chuyên môn hóa trong hoạt động tư pháp người chưa thành niên; bảo đảm và tôn trọng quyền tham gia, trình bày ý kiến; bảo đảm hiệu lực của quyết định áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng; bảo đảm việc thi hành biện pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng, chấp hành án phạt tù phù hợp; hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng.
          - Luật đã xây dựng chế định xử lý chuyển hướng thay thế cho hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội.

Bổ sung, sửa đổi nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng mới, phù hợp với người chưa thành niên tại Điều 36 của Luật như: khiển trách; xin lỗi bị hại; bồi thường thiệt hại; tham gia chương trình học tập, dạy nghề; tham gia điều trị và tư vấn tâm lý; thực hiện công việc phục vụ cộng đồng; cấm tiếp xúc; hạn chế khung giờ sinh hoạt, đi lại; cấm đến một địa điểm nhất định; giáo dục tại xã, phường, thị trấn; quản thúc tại gia đình; giáo dục tại trường giáo dưỡng. Khi xem xét áp dụng, phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; khả năng giáo dục, phục hồi của người chưa thành niên và sự an toàn của bị hại, cộng đồng; sự phù hợp với hoàn cảnh, độ tuổi, đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên. Người chưa thành niên phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc nhiều biện pháp xử lý chuyển hướng; nhưng không áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng nếu tại thời điểm xem xét mà người phạm tội đã đủ 18 tuổi.

- Luật đã xây dựng thủ tục tố tụng thân thiện theo hướng phù hợp hơn với người chưa thành niên.

 Luật đã đổi mới chế định về biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế đối với người chưa thành niên bị buộc tội tại Điều 135, trong đó các biện pháp ngăn chặn bao gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị truy nã, để tạm giam; tạm giữ; giám sát điện tử; giám sát tại nhà. Các biện pháp cưỡng chế bao gồm: Áp giải, dẫn giải; kê biên tài sản; phong tỏa tài khoản. Luật đã thu hẹp các trường hợp người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp tạm giam, theo đó, người chưa thành niên chỉ bị áp dụng biện pháp tạm giam trong trường hợp thật cần thiết và khi các biện pháp giám sát khác không hiệu quả. Ngoài ra, Luật cũng bảo đảm quyền được tiếp cận nhanh chóng, kịp thời của người chưa thành niên đối với người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, trợ giúp viên pháp lý của họ. Luật sư, trợ giúp viên pháp lý của người chưa thành niên bị buộc tội được tham gia tố tụng từ khi xác minh tin báo, tố giác tội phạm. Trường hợp bắt, giữ người chưa thành niên thì họ được tham gia từ khi bắt, giữ người chưa thành niên. Biên bản lấy lời khai, hỏi cung bị can là người chưa thành niên phạm tội chỉ được xác định là chứng cứ khi có sự tham gia của luật sư, trợ giúp viên pháp lý.

- Thứ tư, đổi mới chế tài hình phạt và quy chế tái hòa nhập cộng đồng đối với người chưa thành niên.

 Hệ thống hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định trong Bộ luật Hình sự hiện hành bao gồm cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. Tuy nhiên, Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 đã bổ sung quy định về áp dụng hình phạt cảnh cáo đối với người chưa thành niên khi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng do vô ý và có tình tiết giảm nhẹ, nhưng chưa đến mức miễn hình phạt; mở rộng trường hợp người chưa thành niên bị phạt tù được cho hưởng án treo. Trường hợp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, nếu có tài sản riêng thì cũng có thể được áp dụng hình phạt tiền và mức phạt tiền không quá một phần ba mức tiền phạt mà điều luật quy định. Hình phạt tù đối với người chưa thành niên được xây dựng theo xu hướng giảm nhẹ để bảo đảm tính nhân văn nhưng cũng vẫn duy trì được tính nghiêm minh, răn đe với người vi phạm.
   Luật Tư pháp người chưa thành niên năm 2024 cũng quy định các hình thức tái hòa nhập cộng đồng cho người chưa thành niên trong và sau khi chấp hành xong hình phạt như: mở rộng phạm vi được tha tù trước thời hạn; cho phép thực hiện xét tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người chưa thành niên vào bất kỳ thời điểm nào trong năm thay vì định kỳ xét chung theo đợt với người đã thành niên; dạy nghề; tư vấn tâm lý và hỗ trợ việc làm.

Luật có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

Bên cạnh đó, các Luật như: Luật Năng lượng nguyên tử 2025; Luật Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc 2025; Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt 2025; Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa sửa đổi 2025; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 2025; Luật ngân sách nhà nước 2025; Luật Nhà giáo 2025; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả sửa đổi 2025; uật Công nghiệp công nghệ số 2025; Luật Quảng cáo sửa đổi 2025; Luật Hóa chất 2025; Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật sửa đổi 2025 có hiệu lực từ ngày 01/01/2026.

4. Nghị định 296/2025/NĐ-CP ngày 16/11/2025 quy định về cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính

Ngày 16/11/2025 Chính phủ ban hành Nghị định số 296/2025/NĐ-CP. Nghị định bổ sung riêng Điều 9 quy định các trường hợp người có thẩm quyền phải ra quyết định đình chỉ cưỡng chế, gồm:

 - Cá nhân bị cưỡng chế đã chết, mất tích và không để lại di sản hoặc nghĩa vụ không được chuyển giao cho người thừa kế.

- Quyết định xử phạt, quyết định khắc phục hậu quả hoặc quyết định tịch thu đã bị hủy hoặc sửa đổi.

- Tổ chức bị cưỡng chế đã giải thể, phá sản và nghĩa vụ không được chuyển giao.

- Có quyết định miễn hoặc giảm tiền phạt và người bị xử phạt đã thi hành xong.

- Hành vi vi phạm có dấu hiệu tội phạm và chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

* Quy định rõ hình thức cung cấp thông tin về lương, thu nhập và lương hưu.

Tại khoản 3 Điều 11 Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định cơ quan, tổ chức, người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp bằng văn bản thông tin về: Mức lương; Thu nhập; Lương hưu của cá nhân bị cưỡng chế.

Trước đây, Nghị định 166/2013/NĐ-CP không quy định hình thức cung cấp thông tin, dẫn đến khó khăn khi xác minh điều kiện cưỡng chế.

* Điều chỉnh, làm rõ tỉ lệ khấu trừ lương và thu nhập

Theo Điều 13 Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và chặt chẽ hơn so với Điều 11 Nghị định 166/2013/NĐ-CP. Cụ thể:

Tại Điều 13 Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định, việc khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có thể tiến hành nhiều lần, tỉ lệ như sau:

- Đối với tiền lương, lương hưu tỉ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương, lương hưu thực trả hằng tháng được hưởng sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

- Đối với những khoản thu nhập khác, tỉ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 50% tổng số thu nhập hằng tháng, nhưng phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt tối thiểu của người đó và người được nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật.

Tại Điều 11 Nghị định 166/2013/NĐ-CP thì việc khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập có thể tiến hành nhiều lần, tỉ lệ như sau:

- Đối với tiền lương, bảo hiểm xã hội tỉ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 30% tổng số tiền lương, bảo hiểm xã hội được hưởng.

- Đối với những khoản thu nhập khác, tỉ lệ khấu trừ mỗi lần không quá 50% tổng số thu nhập.

Theo đó, có thể thấy, Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã làm rõ cách tính theo phần lương thực nhận và bổ sung nguyên tắc bảo đảm mức sống tối thiểu. 

* Quy định chi tiết trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và người sử dụng lao động(NSDLĐ)

Điều 14 Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã có bổ sung nhiều nghĩa vụ mới:

- Trong 03 ngày làm việc kể từ kỳ lĩnh lương/thu nhập gần nhất, cơ quan hoặc NSDLĐ phải khấu trừ và chuyển tiền vào Kho bạc Nhà nước.

- Phải thông báo cho cá nhân bị cưỡng chế và thông báo bằng văn bản cho người ra quyết định cưỡng chế sau mỗi lần khấu trừ.

- Nếu NSDLĐ cố tình không phối hợp, không cung cấp thông tin thì sẽ được coi là hành vi cản trở người thi hành công vụ và bị xử lý theo pháp luật.

So với Điều 12 Nghị định 166/2013/NĐ-CP trước đây thì chỉ quy định chung và không có thời hạn hay chế tài cụ thể.

* Quy định thời hạn cung cấp thông tin tài khoản và tiền gửi

Theo Điều 16 Nghị định 296/2025/NĐ-CP quy định, cá nhân/tổ chức bị cưỡng chế phải cung cấp thông tin về: Tài khoản ngân hàng; Số dư; Tên tổ chức tín dụng trong 03 ngày làm việc kể từ khi được yêu cầu.

Điều 14 Nghị định 166/2013/NĐ-CP chỉ quy định “có trách nhiệm thông báo”, nhưng không có thời hạn cụ thể, điều này gây khó khăn cho cơ quan thi hành cưỡng chế.

* Bổ sung quy định về xử lý trường hợp không nhận biên bản kê biên

Tại khoản 3 Điều 25 Nghị định 296/2025/NĐ-CP bổ sung cơ chế xử lý tình huống phổ biến trong thực tế:

- Nếu người bị kê biên không nhận biên bản, phải lập biên bản ghi nhận sự việc và có xác nhận của chính quyền hoặc người chứng kiến thì coi như đã giao.

- Nếu người bị kê biên vắng mặt, không ủy quyền, biên bản kê biên được gửi qua bưu điện theo quy định.

Nghị định 166/2013/NĐ-CP hoàn toàn không có quy định cho các trường hợp trên.

* Làm rõ nguyên tắc xử lý đồ vật bị khóa, đóng gói khi kê biên

Khoản 3 Điều 20 Nghị định 296/2025/NĐ-CP bổ sung một trong những điểm thay đổi lớn:

- Người tổ chức cưỡng chế có quyền yêu cầu mở khóa/mở gói đồ vật.

- Nếu cá nhân/tổ chức không hợp tác: cơ quan cưỡng chế được thuê tổ chức/cá nhân mở khóa/phá khóa, có sự chứng kiến của chính quyền hoặc người chứng kiến.

- Thiệt hại do mở khóa, phá khóa do người bị cưỡng chế chịu.

- Sau khi mở, đồ vật có thể bị niêm phong nếu cần thiết.

- Mọi hoạt động phải lập biên bản và có chữ ký theo đúng quy định.

Đây là nội dung hoàn toàn mới so với Nghị định 166/2013/NĐ-CP nhằm giải quyết vướng mắc trong nhiều vụ kê biên trước đây.

So với Nghị định 166/2013/NĐ-CP, Nghị định 296/2025/NĐ-CP đã hoàn thiện và siết chặt hơn cơ chế khấu trừ lương và thu nhập khi cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

5. Nghị định số 292/2025/NĐ-CP ngày 6/11/2025 hướng dẫn Nghị quyết 216/2025/QH15 về kéo dài thời hạn miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp

Ngày 06/11/2025 Chính phủ ban hành Nghị định số 292/2025/NĐ-CP, theo đó Điều 2 quy định về đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp từ ngày 01/01/2026 như sau:

Đối tượng được miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực hiện theo quy định tại Điều 1 Nghị quyết 55/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp (đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết 28/2016/QH14 ngày 11 tháng 11 năm 2016 của Quốc hội), cụ thể như sau:

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp phục vụ nghiên cứu, sản xuất thử nghiệm; diện tích đất trồng cây hàng năm theo quy định của pháp luật về đất đai; diện tích đất làm muối.

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao hoặc công nhận quyền sử dụng đất cho hộ nghèo.

Việc xác định hộ nghèo được căn cứ vào chuẩn hộ nghèo ban hành theo Nghị định của Chính phủ.

Trường hợp Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có quy định cụ thể chuẩn hộ nghèo theo quy định của pháp luật áp dụng tại địa phương thì căn cứ chuẩn hộ nghèo do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định để xác định hộ nghèo.

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp cho các đối tượng sau đây:

+ Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao, công nhận quyền sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp, nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp (bao gồm cả nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất nông nghiệp).

+ Hộ gia đình, cá nhân là thành viên hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp; hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đã nhận đất giao khoán ổn định của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh và hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nhận đất giao khoán ổn định của công ty nông, lâm nghiệp để sản xuất nông nghiệp theo quy định của pháp luật.

+ Hộ gia đình, cá nhân sản xuất nông nghiệp góp quyền sử dụng đất nông nghiệp của mình để thành lập hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo quy định của Luật Hợp tác xã 2023.

- Miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đối với diện tích đất nông nghiệp được Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp.

Đối với diện tích đất nông nghiệp mà Nhà nước giao cho tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp và các đơn vị khác đang quản lý nhưng không trực tiếp sử dụng đất để sản xuất nông nghiệp mà giao cho tổ chức, cá nhân khác nhận thầu theo hợp đồng để sản xuất nông nghiệp thì thực hiện thu hồi đất theo quy định của Luật Đất đai 2024; trong thời gian Nhà nước chưa thu hồi đất thì phải nộp 100% thuế sử dụng đất nông nghiệp.

- Thủ tục, hồ sơ kê khai, miễn thuế tại Điều 2 Nghị định 292/2025/NĐ-CP thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.

Về hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp (Điều 3 Nghị định).

 Hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở hạng đất được xác định theo quy định tại Quyết định 326/TTg năm 1996 ngày 18 tháng 5 năm 1996 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê chuẩn hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp và Quyết định phê duyệt điều chỉnh hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp của Thủ tướng Chính phủ (nếu có).

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.

6. Nghị quyết số 70/2025/NQ-HĐND ngày 12/11/2025 của HĐND tỉnh quy định một số nọi dung, mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Nghị quyết này áp dụng đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức và cá nhân có liên quan đến việc lập dự toán quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải cơ sở trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Nội dung chi bao gồm:

- Chi biên soạn tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải cơ sở cấp tỉnh;

- Chi biên soạn tài liệu giới thiệu Luật, Pháp lệnh; thông cáo báo chí, sách, đặc san, tài liệu chuyên đề pháp luật, tài liệu tham khảo, hướng dẫn nghiệp vụ phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở để phát hành hoặc đăng tải trên cổng/trang thông tin điện tử và biên soạn chương trình giáo dục pháp luật, sách tài liệu tham khảo, hướng dẫn giáo dục pháp luật trong nhà trường.

- Chi xây dựng Chương trình, Đề án, Kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở; truyền thông chính sách có tác động lớn đến xã hội trong quá trình xây dựng văn bản QPPL; các văn bản quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn Chương trình, Đề án, Kế hoạch của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật, Hội đồng đánh giá chuẩn tiếp cận pháp luật, Ban chỉ đạo các Chương trình, Đề án, Kế hoạch.

- Chi thù lao báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật, hòa giải viên cơ sở, người được tham gia thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở; hướng dẫn sinh hoạt chuyên đề Câu lạc bộ pháp luật, nhím nòng cốt với tư cách là giảng viên.

- Chi xây dựng và duy trì sinh hoạt Câu lạc bộ pháp luật, nhóm nòng cốt.

- Chi tổ chức cuộc thu, hội thi.

- Chi thực hiện báo cáo thống kê về hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luaath và hòa giải ở sơ sở cấp tỉnh.

- Các khoản chi công tác hòa giải ở cơ sở.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

7. Nghị quyết số 103/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định mức trợ giúp xã hội, đối tượng khó khăn hưởng chính sách trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

 * Đối tượng áp dụng gồm:

a) Trẻ em từ đủ 4 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

b) Người cao tuổi quy định tại điểm a khoản 5 Điều 5 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

c) Đối tượng quy định tại khoản 1,2,3 Điều 24 Nghị định số 20/2021/NĐ-CP.

d) Người cao tuổi từ đủ 70 tuổi đến dưới 75 tuổi thường trú trên địa bàn tỉnh, không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hằng tháng.

đ) Người cao tuổi dưới 75 tuổi thường trú trên địa bàn tỉnh, là Đảng viên được tặng huy hiệu 40 năm tuổi đảng trở lên, không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hằng tháng.

e) Người cao tuổi theo quy định của Luật người cao tuổi, thường trú trên địa bàn tỉnh, chưa có chồng hoặc chưa có vợ và chưa có con, đã có chồng hoặc vợ và con nhưng đã chết hết hoặc mất tích hết theo quy định của pháp luật thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo hoặc hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình và không có lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp xã hội hằng tháng.

g) Trẻ em dưới 16 tuổi thường trú trên địa bàn tỉnh thuộc một trong các trường hợp: Khuyết tật nặng dạng nghe và nói (câm và điếc) có khả năng tiếp cận giáo dục; trẻ em tự kỷ thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo; khuyết tật nặng gia đình thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo hoặc có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại đang hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng; cha và mẹ là người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng; cha hoặc mẹ đang hưởng trợ cấp trợ xã hội hằng tháng tại cộng đồng và người còn lại bị tuyên bố mất tích theo quy định của pháp luật hoặc đang chấp hành quyết định xử lý vi phạm hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội.

h) Bệnh nhân phong hiện đang sinh sống và điều trị tại Bệnh viện Da liễu Bắc Ninh.

i) Bệnh nhân mắc bệnh tâm thần phân liệt, động kinh, bệnh lao điều trị nội trú tại Bệnh viện Sức khỏe tâm thần và Bệnh viện Phổi trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

k) Trẻ em dưới 16 tuổi bị bệnh tim bẩm sinh thuộc diện hộ nghèo hoặc hộ cận nghèo hoặc thuộc diện hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật, có thẻ bảo hiểm y tế và thường trú tại tỉnh Bắc Ninh.

l) Các sở, ngành, cơ quan trực thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; Ủy ban nhân dân các xã, phường; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước có ký hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh với tổ chức bảo hiểm y tế; các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

*  Căn cứ xác định mức trợ giúp xã hội

1. Mức chuẩn trợ giúp xã hội thực hiện trên địa bàn tỉnh quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định số 76/2024/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 20/2021/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội.

2. Mức chuẩn trợ giúp xã hội tương ứng với mức trợ cấp hệ số 1,0 làm căn cứ để xác định mức trợ cấp xã hội hằng tháng tại cộng đồng, mức trợ cấp nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội, nhà xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Sở Y tế có chức năng, nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc, điều trị bệnh nhân là đối tượng thuộc diện hưởng chính sách trợ giúp xã hội và các mức trợ giúp xã hội khác.

Nghị quyết có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2026.

8. Nghị quyết số 107/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định chính sách hỗ trợ chi phí hỏa tang (bao gồm cả địa táng) trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Theo đó, đối tượng áp dụng bao gồm các cơ quan, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp chịu trách nhiệm tổ chức hỏa tang cho người chết tại các cơ sở hỏa táng theo quy định của pháp luật.

Mức hỗ trợ 10 triệu đồng/ trường hợp.

Nghị quyết có hiệu lực từ 01/01/2026.

9. Nghị quyết số 111/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định việc hỗ trợ phí chứng thực bản sao điện tử từ bản chính trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

 Đối tượng áp dụng bao gồm:

- UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

- Tổ chức, cá nhân có yêu cầu chứng thực bản sao điện tử từ bản chính tại UBND cấp xã trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Các đối tượng trên được hưởng mức hỗ trợ 100% phí chứng thực bản sao từ bản chính khi có yêu cầu chứng thực bản sao điện tử từ bản chính.

Đựơc hưởng mức hỗ trợ trên từ 01/01/2026 đến hết ngày 21/12/2026.

Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31/12/2026.

10. Quyết định số 97/2025/QĐ-UBND ngày 9/12/2025 của UBND tỉnh ban hành Quy định chế độ báo cáo định kỳ phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh

Quy định này quy định về chế độ báo cáo định kỳ, nguyên tắc, nội dung và trách nhiệm tổ chức thực hiện các chế độ báo cáo định kỳ phục vụ mục tiêu quản lý trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Áp dụng đối với  các cơ quan, đơn vị thuộc UBND tỉnh; UBND xã, phường; các cơ quan, tổ chức khác trên địa bàn tỉnh và các cán bộ, công chức, viên chức có liên quan đến việc ban hành và thực hiện các chế độ báo cáo định kỳ phục vụ mục tiêu quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh.

* Thời gian chốt số liệu báo cáo như sau:

1. Báo cáo định kỳ hằng tháng: tính từ ngày 15 tháng trước đến ngày 14 của tháng thuộc kỳ báo cáo.

2. Báo cáo định kỳ quý I: tính từ ngày 15 tháng 12 năm trước đến ngày 14 tháng 3 của năm báo cáo.

3. Báo cáo định kỳ 6 tháng: tính từ ngày 15 tháng 12 năm trước đến ngày 14 tháng 6 của năm báo cáo.

4. Báo cáo định kỳ 9 tháng: tính từ ngày 15 tháng 12 năm trước đến ngày 14 tháng 9 của năm báo cáo.

5. Báo cáo định kỳ hằng năm: từ ngày 15 tháng 12 năm trước kỳ báo cáo đến ngày 14 tháng 12 của kỳ báo cáo.

6. Đối với các báo cáo không chốt số liệu theo mục 1,2,3,4,5 trên thì cơ quan, đơn vị được giao tổng hợp báo cáo tham mưu UBND tỉnh thời hạn chốt số liệu cụ thể phù hợp với tình hình và nhiệm vụ quản lý ngành, lĩnh vực được giao.

* Thời hạn gửi báo cáo như sau:

- Thời hạn gửi báo cáo của từng cơ quan, đơn vị:

+ Thời hạn gửi báo cáo của các cơ quan, đơn vị là chậm nhất sau 02 ngày kể từ ngày chốt số liệu báo cáo;

+ Thời hạn cho cơ quan, đơn vị được giao tổng hợp báo cáo thực hiện việc tổng hợp báo cáo là 05 ngày.

- Trường hợp báo cáo hằng tháng trùng với kỳ Báo cáo quý, Báo cáo 6 tháng, Báo cáo 9 tháng và Báo cáo năm thì các cơ quan, đơn vị không phải thực hiện chế độ báo cáo tháng của kỳ báo cáo đó.

- Trường hợp thời hạn báo cáo trùng vào ngày nghỉ hằng tuần hoặc ngày nghỉ lễ theo quy định của pháp luật thì thời hạn gửi báo cáo vào ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ, ngày lễ đó.

Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2026.

11. Nghị quyết số 116/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định nội dung và mức chi đào tạo, bồ dưỡng công chức viên chức trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Theo đó, đối tượng áp dụng gồm:

- Công chức trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị- xã hội ở cấp tỉnh và cấp xã thuộc phạm vi quản lý của tỉnh Bắc Ninh.

- Viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập.

- Các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.

Mức chi bồi dưỡng công chức cụ thể như sau:

- Giảng viên, báo cáo viên là Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, Bí thư tỉnh ủy và các chức danh tương đương: Mức tối đa 4.000.000 đồng/ buổi (một buổi tương được tính bằng 4 tiết học);

- Giảng viên, báo cáo viên là Thứ trưởng, Chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Phó Bí thư  tỉnh ủy và các chức danh tương đương: giáo sư, chuyên gia cao cấp; giảng viên cao cấp và tương đương; Tiến sỹ khoa học: Mức tối đa 3.000.000 đồng/buổi;

- Giảng viên, báo cáo viên là Phó Chủ tịch HĐND và UBND cấp tỉnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, giảng viên chính và tương đương; Vụ trưởng và Phó vụ trưởng thuộc Bộ, Phó cục trưởng, Giám đốc, Phó Giám đốc sở, ngành và các chức dang tương đương; phó giáo sư; tiến sỹ; giảng viên chính; Mức tối đa 2.500.000đồng/buổi;

- Giảng viên, báo cáo viên còn lại là cán bộ, công chức, viên chức công tác tại các cơ quan, đơn vị ở trung ương và cấp tỉnh (ngoài 3 nhóm đối tượng nêu trên); Bí thư, Phó Bí thư đảng ủy xã, phường; Chủ tịch HĐND, UBND xã phường: Mức tối đa 2.000.000đồng/buổi;

- Giảng viên, báo cáo viên là cán bộ, công chức, viên chức công tác tại các đơn vị cấp xã: Mức tối đa 1.500.000đồng/buổi;

Mức chi tiền công giảng viên, báo cáo viên (đã bao gồm cả tiền công soạn giáo án bài giảng) trên cơ sở thỏa thuận theo hình thức hợp đồng công việc trong phạm vi dự toán được giao.

Ngoài mức chi tiền công giảng viên, báo cáo viên còn các khoản chi khác như:

- Phụ cấp tiền ăn cho giảng viên, báo cáo viên: Tùy theo địa điểm, thời gian tổ chức lớp học, các cơ quan. Đơn vị được giao chủ trì tổ chức các khóa bồi dưỡng quyết định chi phụ cấp tiền ăn cho giảng viên, báo cáo viên phù hợp với mức chi phụ cấp lưu trú được quy định tại Nghị quyết của HĐND tỉnh.

- Chi phí thanh toán tiền phương tiện đi lại, tiền thuê phòng nghỉ cho giảng viên, báo cáo viên;

- Đối với các khóa bồi dưỡng công chức yêu cầu có trợ giảng, tùy theo mức độ cần thiết, thủ trưởng cơ sở bồi dưỡng hoặc thủ trưởng có quan được giao nhiệm vụ mởi lớp bồi dưỡng quyết định số lượng trợ giảng và được chi tiền công trợ giảng bằng 50% mức chi tiền công giảng viên, báo cáo viên của lớp bồi dưỡng có trợ giảng.

- Chi giải khát giữa giờ phục vụ lớp học.

- Chi khen thưởng cho học viên đạt loại giỏi, loại xuất sắc, mức tối đa 400.000đồng/viên.

- Chi phí tổ chức cho học viên đi khảo sát, thực tế theo yêu cầu của chương trình bồi dưỡng do cấp có thẩm quyền ban hành.

- Chi hoạt động quản lý trực tiếp các lớp bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng hoặc các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ mở lớp đào tạo, bồi dưỡng. Các cơ sở bồi dưỡng hoặc cơ quan tổ chức lớp bồi dưỡng được phép trích tối đa không quá 5% trên tổng kinh phí của mỗi lớp học….

Nghị quyết có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2026.

Bên cạnh đó còn 1 số văn bản có hiệu lực từ ngày 01/01/2026 như:

Nghị quyết số 95/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định một số mức chi bảo đảm cho hoạt động kiểm soát thủ tục hành chính trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

          Nghị quyết số 113/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Ban hành Quy định chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, đào tạo nhân lực phục vụ công nghiệp bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, giai đoạn 2025-2030

Nghị quyết số 114/2025/NQ-HĐND ngày 10/12/2025 của HĐND tỉnh Quy định mức chi công tác phí, mức chi hội nghị đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh;

Quyết định số 98/2025/QĐ-UBND ngày 9/12/2025 của UBND tỉnh Ban hành Quy chế theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh giao trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh./.

Lê Huyền, VP HĐND&UBND phường